Top 4 truyện cổ Tây Tạng hay nhất

Từ lâu, Tây Tạng đã được biết đến với địa hình núi non hiểm trở và là vùng đất khá xa lạ với thế giới bên ngoài. Bởi vậy mà văn hóa, phong tục tập quán và những tín ngưỡng của người dân nơi đây cũng khác biệt và mang những nét đặc trưng riêng. Dưới đây là top 4 truyện cổ Tây Tạng hay nhất.

Biển Tiền Vàng

Hôm đó là ngày rằm tháng tám, khi trên mặt đất xảy ra những chuyện kỳ dị, những chuyện thường không thể có được. Trên không lơ lửng vầng trăng tròn vành vạnh, vàng tươi.

Người thợ săn Lan-fou cắp thúng đi lên núi cao để lượm phân heo rừng. Sau một hồi cực nhọc, anh tới đỉnh núi và nhìn về phía bên kia. Phía thung lũng mọi khi mờ tối, âm u, bây giờ làm anh giật mình, nín thở. Trước mặt anh, gần như cỏ thể với tới, cả thung lũng tràn ngập ánh trăng vàng. Lan-fou bấu vào tay mình. Thật đó là ánh trăng hoặc giả là một biển đầy tiền vàng – anh không thể thật sự tin nổi.

“Nhưng tiền đâu ra? Ai ném tiền đó như vậy ?”. Lan-fou nhìn quanh, tự hỏi. Lúc đó bỗng có vật gì cử động trên mặt biển vàng. Nhìn kỹ hơn, Lan-fou thấy một chiếc thuyền đi về phía mình và trên thuyền – Lan-fou giụi mắt – trên thuyền, đúng, không phải là mơ, trên thuyền đang tiến thẳng về phía anh có một phu nhân trẻ đẹp.

Ta là bà tiên mặt trăng – bà nói giọng ngọt ngào. Ta đã chờ anh. Anh tới vừa đúng lúc. Đêm nay, những kho báu vật của đất được mở ra, và người nào tới thung lũng này đều được nhận phần của mình. Nói xong, phu nhân cho Lan -fou ba đồng tiền vàng.

Lan-fou cám ơn và vui vẻ trở về. Nhưng vừa đi được vài bước, anh bỗng có ý nghĩ : “Một biển tiền đầy như thế ! Đáng lẽ mình có thể xin bà cho mình thêm chút đỉnh ?”. Thế là anh quay lại, tới chỗ bà tiên vẫn còn chèo chiếc thuyền vàng trên biển tiền.

Thưa phu nhân tôi nghèo lắm – Lan-fou nói. Xin phu nhân cho tôi ba đồng nữa.

Bà tiên mỉm cười, thò tay xuống biển và cho Lan-fou ba đồng tiền sáng rực.

Anh thợ săn vồn vã cám ơn và trở về nhà. Anh vừa đi dọc bờ biển rực ánh vàng vừa suy nghĩ : “Sáu đồng tiền là nghĩa lý gì, trong khi ở đây có cả ngàn, cả vạn. Mình không trở lại xin bà tiên nữa, mình sẽ hốt đầy thúng ngay ở đây. Rốt cục, mình có thể sống thảnh thơi không phải lo nghĩ tới ngày mai”.

Đi tới một tấm ván bắc qua một dòng suối làm cầu, anh chợt nghĩ: “Nhưng một thúng tiền thì có nghĩa gì ? Nếu mình đem về nhà một đống lớn? Ừ ? Nhưng mình không được mất thì giờ với chiếc thúng này”. Nghĩ sao làm vậy: anh vất thúng xuống suối, chạy nhanh hết sức về nhà.

Anh lấy một cái gùi lớn, trở lên núi. “Nhưng chỉ một gùi thì làm gì? anh nghĩ. Bỏ lại chừng đó tiền thì tiếc quá. Bảo vợ mình đem theo một cái gùi nữa thì tốt hơn”.

Thức dậy mau lên! Anh gọi vợ mà hai mắt sáng rực. Lan-fou chạy lên núi như một thằng điên, để tới biển tiền vàng, vợ anh theo sau. Tới chiếc cầu bắc qua suối, anh tự bảo: “Hai gùi cũng chẳng bao nhiêu. Tốt hơn nên gọi cha vợ và mẹ vợ mình tiếp sức để lấy cả một xe”. Anh vội vã quay lại, vợ anh vẫn theo sau. Họ đi gọi cha mẹ vợ anh giúp một tay. Bốn người hộc tốc lên núi. Họ chạy gần đứt hơi, gần tới đỉnh núi, nhưng biển tiền vàng còn ở phía bên kia. Nhưng, chuyện gì vậy ? Trăng có vẻ mờ…trăng mờ, đỉnh núi nhuộm một màu hồng nhợt nhạt, rồi những tia sáng đỏ của mặt trời đang mọc lên tỏa rạng khắp nơi. Lan-fou đứng lặng, nhìn thung lung, sững sờ không nói được một lời. Biển tiền vàng đã biến mất.

Tiền đâu ? Vợ anh quát hỏi.

Tiền của mày đâu ! Cha mẹ vợ anh thét.

Nó đã biến mất – Lan-fou thì thào.

Biển tiền đã biến mất thật rồi, không bao giờ trở lại nữa. Anh kể lại cho họ nghe anh đã nhận của bà tiên ba đồng tiền vàng rồi ba đồng nữa ra sao, anh đã hốt đầy một thúng và vất xuống suối như thế nào.

Lòng đầy hy vọng, họ hấp tấp trở lại cây cầu nhỏ. Nước cuồn cuộn chảy dưới suối, nhưng chỉ có đá cuội, không thấy vết tích chiếc thúng đâu.

Tiếc cái thúng quá – Lan – fou nói. Bây giờ tôi phải đan một chiếc khác

Truyện Hảo tâm

Ngày xưa, cách nay rất lâu, khi người ta còn sống rời rạc ở khắp nơi và nhà cửa cách nhau hàng ngàn dặm, có một vật sáng chói lạ thường xuất hiện trên bầu trời. Khi vật đó tới gần mặt đất, ngươi ta nhận ra một sao chổi sáng rực. Trong khi sao chổi di qua gần quả đất đang ngủ say trong đêm tối, những tàn lửa nóng sáng nhỏ như sợi tóc rơi xuống từ cái đuôi lửa của nó. Chúng rơi xuống đâu thì ở đó cây cỏ cháy thành than, đất cát tiêu tan, cả vùng bùng lên một đám cháy dữ dội, nhà cửa biến thành tro. Cải xứ cháy đen đó biến ra một hoang mạc khô cằn. Người dân bất hạnh và vạn vật khổ sở vì hạn hán, đói khát.

Trong vùng đó có một thanh niên lúc nào cũng giúp đỡ mọi người và nghĩ tới người khác hơn lo cho mình. Vì vậy người ta luôn luôn gọi chàng là Hảo Tâm. Chàng có lòng thương người, mắt chàng toát ra tính nhã nhặn vui vẻ. Chàng sung sướng khi thấy đồng loại vui mừng, cùng khóc khi người khác có chuyện buồn phiền.

“Làm sao cho dân chúng thoát khỏi nạn hạn hán kinh khủng này ?”, Hảo Tâm tự hỏi và từ đó ý nghĩ giúp dân không rời chàng nữa. Thế nhưng phải làm thế nào thì chàng đành chịu. Một hôm chàng quyết định đi vấn kế một ông cụ khôn ngoan ở làng bên cạnh.

Sau khi nghe chàng bày tỏ nỗi lo buồn, ông cụ nghiêm trang gục gục đầu và trả lời:

Đúng vậy đó, cháu ạ. Ngày trước, ông cố của ta cho ta biết sự bí mật của lò lửa vĩnh cửu cháy giũa lòng vũ trụ sâu thẳm.

Thỉnh thoảng, từ lò lứa vĩnh cửu đó tách ra một ngọn lửa đầy tóc, nó có những tia lửa rơi xuống đất và đốt cháy cả một vùng. Chỉ người nào vớt được viên ngọc bích giấu dưới đáy một cái hồ sâu ẩn kín trong núi Ngọc, chỉ người đó mới giúp được mọi người. Nhưng núi Ngọc cách đây xa lắm, đường đi tới đó nguy hiểm và nhiều trở ngại. Hơn nữa, lấy được viên ngọc bích rất khó. Có một con nhện đen khổng lồ canh giữ viên ngọc, nó giăng một tấm mạng trên mặt hồ và bắt giữ tất cả những gì tới gần đó.

Hảo Tâm chăm chủ lắng nghe. Ông cụ ngưng một lúc rồi nói tiếp:

Người nào muốn đi tới đáy hồ trước hết phải đi qua cánh đồng hoa độc để chiếm chiếc ngòi vàng của con ong vò vẽ chúa; chỉ với khí giới đó mới giết được con nhện đen. Đó là công việc khó khăn, cực kỳ gian khổ, và những người táo bạo thử làm đều đã bỏ mạng.

Tôi muốn thử. Ra sao thì ra! Hảo Tâm nói. Anh cám ơn ông già và lên đường. Chàng lang thang rất lâu trong một vùng hoang vắng, cuối cùng tới một khu rừng. Con đường có vẻ không bao giờ chấm dứt, như thể khu rừng muốn nuốt chửng kẻ xâm nhập. Trong khi chàng cứ tiến bước trong khu rừng không mấy niềm nở này, một tiếng rên rỉ bỗng phá tan sự im lặng. Hảo Tâm quay lại và thấy một con chim cắt đang cắp một con quạ non để mang nó ra khỏi tổ.

Để yên con chim nhỏ! Hảo Tâm kêu to và lượm một hòn sỏi ném con chim cắt, Con chim săn mồi bỏ con quạ non và bay mất.

Quạ, quạ! Cám ơn Hảo Tâm! Anh đã cứu mạng con tôi – con quạ cha nói trên đầu chàng. Nếu khi nào cần tôi giúp, anh chỉ cần nhớ tới tôi.

“Làm sao một con quạ lại có thể giúp đỡ mình”, Hảo Tâm nghĩ thầm nhưng không nói gì và đi tiếp. Chàng đì rất lâu và cuối cùng rừng cây bắt đầu thưa thớt. Khi tới bìa rừng, chàng thấy mình đang ở dưới chân một hòn núi lớn mà đỉnh núi cụt như một mặt bàn. Chỉ có một con đường mòn ngoằn ngoèo, mất hút trong đầm lầy gai gốc đi lên đỉnh núi. Hảo Tâm theo con đường đó đi lên đỉnh, không bận tâm tới chân tay bị đá nhọn và cành lá sắc bén cắt nát. Mất ba ngày, ba đêm chàng mới lên tới đỉnh núi. Đó là một cao nguyên rộng lớn phủ đầy hoa độc. Giữa cánh đồng sừng sững một thân cây già rỗng ruột, trên cây cao nhất lủng lẳng một tổ ong vò vẽ.

“Làm sao lên tới tổ ong ?”, Hảo Tâm thất vọng hỏi. Chàng quan sát những con ong, cả một đám mây vo vẽ xung quanh tổ và khắp cánh đồng hoa. “Ồ! Quạ, quạ! Nếu mày có thể tới giúp ta!”, chàng thì thầm. Chàng vừa nói xong thì bầu trời tối sầm lại và hàng ngàn con quạ bay vòng trên cánh đồng hoa. . .

– Quạ, quạ! Tôi và cả gia đình tới giúp anh đây. Trong khi con quạ có con nhỏ được anh cứu nói thế, những con quạ đen khác từ mọi hướng vẫn đổ tới. Mỗi con ngậm một cọng cỏ khô, bay tới đặt quanh thân cây rỗng ruột.

Quạ, quạ ! đánh lửa đi, Hảo Tâm ! Con quạ đen nói.

Hảo Tâm lấy hai hòn đá lửa đập vào nhau rất lâu tới khi một tia lửa bật ra và làm cháy cỏ khô. Đó là một thứ lửa âm ỉ, phát ra một cột khói rất mạnh bao trùm quanh cây. Bầy ong vò vẽ thoát đi mọi hướng và trong phút chốc không còn bóng dáng một con. Hảo Tâm có thể tới gần cây và trèo lên tới tổ ong. Nhưng trước khi chàng bắt được ong chúa, nó hung hăng bay thoát.

Quạ, quạ ! Đừng lo, tôi sẽ bắt nó lại ? Vẫn con quạ đen nói. Con quạ đuổi theo con ong chúa, bắt được nó, ngậm trong mỏ đem về cho Hảo Tâm. Chàng rút cái ngòi vàng của con ong, cẩn thận bọc trong chiếc khăn tay. Chàng chân thành cám ơn con quạ, và hai người bạn chia tay.

Chúc anh thành công ! Con quạ nói rồi bay theo bầy. Thế rồi Hảo Tâm đi thẳng tới núi Ngọc. Trong cuộc hành trình gian khổ của chàng, mặt trăng nhiều lần biến mất và xuất hiện lại trên trời.

Hơn chín lần chàng trai trẻ suýt chết đuối khi bơi qua những con sông hung hãn, hơn chín lần chàng phải vượt qua những vực sâu chóng mặt, nhưng cuối cùng chàng đã tới chân núi Ngọc. Ở đây trời lạnh như băng, như thể mặt trời không đủ sức sưởi ấm hòn núi quá lớn. Càng lên cao, trời càng lạnh và tối. Cuối cùng là bóng tối hoàn toàn, và hồ núi Ngọc nằm trong bóng tối đó.

Trên mặt hồ im lặng như mọi thứ đều chết, và chỉ trên cao, phía trên các vách đá, người ta mới đoán biết là có một mảnh bầu trời không với tới.

“Chắc chắn ở đó có đường tới đáy hồ”, Hảo Tâm bảo thầm và nghiêng mình nhìn mặt nước dò xét, lòng nặng trĩu lo âu.

Từ đáy hồ, những con mắt lờ đờ của con nhện đen to tướng đã theo dõi chàng, nó chậm chạp chuẩn bị những cái chân dài để phóng tới tấn công. Hảo Tâm nhanh nhẹn tháo nút khăn tay, nhưng trước khi chàng kịp chuẩn bị chiếc ngòi vàng của ong chúa; con nhện đã đảo mắt, ra khỏi nước và nhảy xổ vào nạn nhân của nó.

Cuộc chiến đấu không cân sức bắt đầu. Con nhện đen quấn tơ quanh mình Hảo Tâm. Nhưng đúng lúc nó chuẩn bị hạ sát nạn nhân, chính nó bị chiếc ngòi vàng đâm trúng, và vi thế nó phải thả con mồi của mình ra. Nó oằn oại một lúc nữa rồi ngã ra chết cứng và chìm lỉm dưới hồ. Trong khi chìm xuống đáy hồ, nó để cuộn tơ tháo ra. Khi Hảo Tâm gỡ đuốc những sợi tơ trói buộc mình ra, chàng thấy sợi tơ nhện đó, nắm lấy và dùng nó để xuống đáy hồ. Càng xuống sâu nước càng lạnh. Chàng có cảm tưởng là sẽ không bao giờ tới đáy hồ, chàng đã bảo thầm là phải trên mặt nước nhưng đúng lúc đó chân chàng chạm đáy hồ. Những tia sáng trong bóng tối khiến chàng chú ý. Đó là viên ngọc bích. Hảo Tâm bèn cào lớp cát lạnh như băng để lấy viên ngọc, nhưng nó lạnh quá, không thể nắm trong tay đã tê cóng. Thế là sợ viên ngọc rơi mất, chàng liền ngậm vào miệng và trồi mặt nước ngay.

Lên khỏi nước chàng buông mình ngã trên bờ hồ vì đã kiệt sức. Chàng ngủ lâu lắm. Khi tỉnh giấc, chàng muốn rửa mặt cho mát và nghiêng mình xuống hồ. Nhưng khi thấy bóng mình trong nước hồ phẳng lặng như gương, chàng lặng người sửng sốt vì thấy mình thay đổi quà nhiều. Đó không phải là Hảo Tâm mà là một thủy thần khổng lồ mà từ miệng có những dòng suối phun ra.

Thế là chàng vội vã trở về làng. Với bước chân của người khổng lồ, chàng nhảy qua vực sâu, leo qua núi, và chàng đi tới đầu thác nước chảy ra ở đó. Trong vết chân chàng, cỏ xanh bắt đầu mọc, và những cánh đồng khô cháy lại cho mùa màng tươi tốt.

Khi về tới làng, chàng đã kiệt sức đến nỗi gục xuống đất, và từ tấm thân khổng lồ một dòng nước chảy ra, chẳng bao lâu đã đầy một hồ lớn. Dân chúng khắp nơi chạy tới xem cảnh tượng này. Chừng đó nước, quả là phép màu ! Rồi họ lại bắt đầu cày bừa, đào kênh dẫn nước tươi cho cả vùng.

Từ đó xứ này không sợ tia lửa sao chổi nữa.

Truyện Hai Vị Thần

Ở trên núi cao, nơi tiếng người không vọng tới, có một ngôi miếu gỗ đã gần mục nát nhưng trong miếu có một vị thần linh thiêng. Đó là một vị sơn thần kiêu ngạo. Đối với vị “đồng nghiệp” của mình dưới đồng bằng là một vị thần hoàng, ông cư xử vô cùng vênh váo. Sơn thần muốn nổi bật hơn và nhân đó chọc giận thành hoàng. Một hôm, nhân ngày vía của ông, dân chúng quanh vùng đem lễ vật tới cúng bái, món nào cũng ngon. Thế là sơn thần quyết định mời “người bạn” tới để khoe những thứ mình đã nhận được. “Khi ông ta thấy dân chúng sùng bái ta ra sao, ta đoán chắc ông ta sẽ tái mặt vì ghen tị ?”.

Từ xa vị thần kia đã cảm thấy mùi thơm của bánh kẹo và khói hương. Ông vào miếu và thấy đối thủ nằm ưỡn giữa những thứ ngon lành đó. Ông ta làm ra vẻ chán chường. Thành hoàng khó chào hỏi được vì nước bọt ứa đầy miệng.

– Tôi không biết bọn họ ra sao nữa – sơn thần nói, làm như không nghe bụng của khách sôi òng ọc. Lúc nào họ cũng thình lình tới cùng một lúc rồi cầu khẩn, Thần này, Thần nọ, Thiên thần xin giúp đỡ. Xin giải ách giải nạn cho tôi; xin  cho mùa lúa của tôi tốt hơn; xin trù yểm con bò cái của người láng giềng – lần nào cũng như vậy. Chắc chắn là khi cầu xin việc gì họ cũng đem cúng tôi một món, nhưng nói thật với ngài – sơn thần nói tiếp, giọng chán chường – Tôi đã chán ngấy tất cả những thứ bánh tẩm mật ong, tôi đã mệt mỏi với thứ khói hương bắt đầu làm tôi lộn ruột.

Và ông ta làm bộ ho hắng. Ông ta vừa dứt lời thì tiếng vó ngựa vang lên trước miếu. Quả nhiên một con ngựa vừa dừng chân trước cửa. Một thanh niên nông dân cỡi trên lưng nó. Thanh niên ngồi trên yên, vươn cổ nhìn vào trong.

– Ủa, người ta không xuống ngựa và cung kính vái lạy sơn thần, như bổn phận của người trần tục sao? Thần thành hoàng thẳng tay châm chích người bạn kiêu ngạo. Ở địa vị của ngài, tôi sẽ dạy cho tên vô đạo biết thế nào là tôn kính!

Sơn thần phật ý; và để đối thủ khỏi coi thường, ông ta niệm một câu thần chú. Lập tức trời kéo mây đen, những tia chớp xé tan màn đen u ám và sấm sét rung động cả núi.

“Thời tiết xấu quá!”. Anh thanh niên nói và nhảy xuống ngựa và vào miếu để đụt mưa. Nhưng cột ngựa ở đâu bây giờ? Anh ta nhìn quanh và bắt gặp bức tượng sơn thần bằng đất sét.

“Cái mình cần đây rồi”, anh ta tự bảo và quàng cương ngựa vào cổ bức tượng.

“Táo tợn quá” Sơn thần nổi giận quát to. Chờ xem, ta sẽ dạy cho mày biết lễ phép!”. Ông ta đọc ngay một câu thần chú khác. Thế là mọi vật bị dìm vào bóng tối hoàn toàn, cách một bước không nhìn thấy gì, gió gầm rú, trời mưa như thác đổ trong khi đất dưới chân rung chuyển như ngày tận thế. Thình lình một tiếng sấm khủng khiếp làm con ngựa kinh hoàng khiến nó lồng lên làm đổ cả bức tượng sơn thần. Bức tượng ngã xuống đất, vỡ tàn thành muôn ngàn mảnh.

Chao ôi! Ghê gớm quá! Thần thành hoàng kêu thét lên khi thấy kết cục của đối thủ kiêu ngạo. Bây giờ miễn là mình không gặp một tai họa khác!”. Và ông ba chân bổn cẳng chạy xa cái nơi nguy hại đó.

Truyện Áo Lông Trắng

Ngày xưa, cách nay lâu lắm, ở một nơi xa xôi có một thiếu nữ hiền hậu. Mẹ cô đã chết từ lâu và nay cô sống với một người mẹ ghẻ. Như vẫn thường gặp, người mẹ ghẻ không thương đứa con chồng và chỉ nghĩ cách tống khứ cô càng sớm càng tốt. Cô gái cố công chiều chuộng người mẹ ghẻ nhưng vô ích.

Người mẹ ghẻ có một người bạn cũ ở làng bên. Đó là một người đàn ông cộc cằn, hay gắt gỏng, mọi người đều muốn tránh.

Mặt ông ta mọc đầy râu đen nên người ta đặt cho biệt hiệu là “Râu Đen”.

– Người đâu mà kỳ cục – những người tình cờ gặp ông ta đều bảo nhỏ và quay mặt đi ngay. Một hôm Râu Đen nói với người mẹ ghẻ:

– Này bà bạn, tôi đã thấy đứa con ghẻ của bà. Bây giờ nó đã mười lăm tuổi và trông xinh đáo để. Bà cho nó làm vợ tôi đi, bà sẽ không hối tiếc đâu.

– Cô gái nào được người như ông muốn lấy làm vợ cũng có thể khoe là may mắn – người mẹ ghẻ hài bòng nói. Lo cho nó tôi đã chán ngán lắm rồi. Bây giờ tôi đáng được nghỉ ngơi. Nhưng miễn là nó không từ khước, vì nó bướng bỉnh lắm. Ông không thể tưởng tượng những gì nó đã bắt tôi phải chịu đựng đâu.

Đừng sợ gì cả, tôi biết dạy cô ta cách ăn ở- Râu Đen nói.

Khi cô biết chuyện, cô khóc lóc, van xin nhưng vô ích. Và ít lâu sau người mẹ ghẻ gả cô cho Râu Đen thật. Ngay khi cô tới nhà ông ta, ông ta nhốt cô trong một căn phòng nhỏ vừa nói với một tiếng cười độc ác:

– Hãy ở đây mà suy nghĩ về việc một người vợ đứng đắn phải cư xử với chồng như thế nào. Ta bảo cho cô biết, khi ta tới gặp cô, cô phải ngoan ngoãn tươi cười, nếu không cô sẽ bị nhốt chặt, không được ăn uống cho tới khi biết nghe lẽ phải.

Khi Râu Đen đi ra, cô gái gài ngay chốt cửa rồi nhìn quanh. Căn phòng chỉ có một cửa sổ nhỏ ở tít trên cao. “Không bao giờ mình có thể thoát qua đó”, cô gái tự bảo và khóc nức nở. Cô khóc lâu đến nỗi cuối cùng đã ngủ quên. Một con chim câu trắng hiện ra trong giấc mơ nói với cô:

Tại sao con khóc nhiều vậy?

Đừng sợ gì cả, mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Ta sẽ để lông của ta lại cho con, con chỉ cần kết thành một chiếc áo. Khi chuyện quá tệ, con cứ mặc áo vào.

Kế đó con chim câu trắng đậu trên giường cô và rỉa cho rụng từng cọng lông thành một đống to, rồi biến mất trước khi cô nhận biết.

Cô gái tỉnh giấc ngay lúc đó. “Giấc mơ lạ quá”, cô tự bảo. Nhưng khi nhìn tới một góc giường, cô suýt thét to vì sửng sốt. Ở đó có một đống lông trắng nhẹ như tơ.

Cô gái hiểu rằng cô không chỉ mơ, và cô bắt tay vào việc may áo ngay. Cô vừa làm xong thì đã nghe tiếng ầm ầm ở cửa phòng.

Mở cửa ra ngay, ai cho phép cô tự khóa trái? một giọng bực tức ra lệnh. Cô gái làm thinh.

Mở ra ngay, nếu không ta sẽ phá cửa – Râu Đen hét vang như sấm. Ông ta nện mạnh quá nên cửa kêu răng rắc. Cô gái sợ run. Cô chỉ có đủ thì giờ mặc nhanh chiếc áo lông vào thì cửa phòng bật tung và Râu Đen xông vào như cơn gió lốc. Lúc đó cô gái biến thành một con chim câu trắng và bay qua cửa sổ.

Cách đó rất xa có khu vườn rộng của một ông chủ quán trọ già sống một mình và không lúc nào đủ sức làm hết việc. Con chim câu bay tới đó, đậu trên một cành cây và kêu gù gù buồn bã. Ông chủ quán lúc nào cũng có lòng nhân từ, không thể nghe tiếng than van mà không đi xem coi có chuyện gì. Thấy con chim câu, ông nói lớn:

– Một con chim câu trắng rất đẹp, và nó kêu rất buồn! Mày có chuyện gì, biết đâu mày khát nước? Đợi đó, ta sẽ đem cho mày một ít nước.

Ngay khi con chim nhúng mỏ vào nước, nó biến ra một thiếu nữ đẹp. Cô cúi thấp đầu chào ông chủ quán. Chủ quán trợn mắt vì sửng sốt.

Cô ở đâu ra? Còn con chim câu đâu rồi?

– Chính tôi là con chim câu trắng – cô gái nói. Tôi không còn ai thân thích. Mẹ ghẻ tôi gả tôi cho Râu Đen. Tôi sợ ông ta vì ông ta là người hung dữ.

Cô gái khóc và kể cho ông chủ quán trọ nghe cô đã thoát nạn nhờ những cọng lông chim như thế nào. Ông chủ quán rất xúc động. Ông hỏi:

– Và cô định đi đâu ?

– Tôi không biết phải đi đâu cả- cô lẩm bẩm và rơi nước mắt.

– Thế thì cô chỉ cần ở lại đây – ông chủ quán quyết định.

Vì vậy cô gái ở lại quán trọ. Cô nấu ăn, săn sóc nhà cửa, khả ái và khiêm tốn nên ông chủ quán trọ thương yêu cô như con ruột.

Một hôm, cô sắp xếp lại những chiếc bình đồng dùng để đong rượu cho khách uống. Cô thấy hai cái kệ trên cao, ngay dưới trần nhà. Có những chiếc bình vàng sắp trên một kệ, và những chiếc bình sắt trên kệ kia. Cô hỏi ông chủ quán trọ:

Thưa cha, tại sao chúng ta không bao giờ dùng những chiếc bình sắt và bình vàng mà con thấy trên kệ dưới trần nhà?

Ông chủ quán thở hổn hển chạy tới:

– Tốt nhất là con đừng uống rượu từ các bình đó! Bình vàng dành cho thần thánh, và bình sắt dành cho ma quỷ! Chúng ta là người phàm tục, đã có các bình đồng này.

Cô gái không hiểu rõ hơn nhiều lắm, nhưng bản tính dễ bảo nên cô đặt bình lại chỗ cũ và leo xuống. Đúng lúc đó cô nghe những giọng nói rất quen thuộc từ ngoài vọng vào:

– Có lẽ ở đây người ta biết chuyện gì chăng. Chủ quán đâu?

– Họ đó – cô nấc lên vì sợ hãi. Đó là mẹ ghẻ của con và Râu Đen. Cha ơi, chúng ta sẽ làm gì ?

– Chiếc áo lông của con trong phòng – ông chủ quán nhớ lại. Con chạy nhanh về phòng đi!

Ông nói xong thì cô gái đã nhảy vào căn phòng nhỏ và mặc vội chiếc áo lông. Cô lập tức biến thành một con chim câu trắng và bay ra phòng khách đúng lúc mẹ ghẻ cô và Râu Đen đang hỏi ông chủ quán có ngẫu nhiên thấy một cô gái lạ trong vùng không?

Tôi không biết một cô gái lạ nào hết – chủ quán trả lời. Ở đây chỉ có con gái tôi, và nó đang đi thay áo mới.

Ông cũng không nghe nói về một con bồ câu trắng chớ? Râu Đem vẫn hỏi giọng nghiêm nghị.

Nghe hỏi vậy, con chim câu hoảng hốt đập cánh bay lên tới trần nhà, nấp sau hàng bình sắt ở cái kệ trên cao. Ba người ngước lên, và bà mẹ ghẻ nhìn Râu Đen có vẻ hiểu biết. Gã này hét to giận dữ:

– Con bồ câu này của ai?

– Của tôi – chủ quán điềm tĩnh trả lời. Tôi gặp nó trên một cái cây trong vườn của tôi, và tôi đã cho nó ăn uống để nó không bỏ đi.

– Đó là một con bồ câu giống hệt con của chúng tôi đã mất bà mẹ ghẻ tuyên bố. Chúng tôi cũng đã cho nó ăn uống, nhưng nó rất hoang dã và nó đã bay đi. Tôi tin rằng nó là của chúng tôi.

Ông cho phép chúng tôi xem xét chớ?

Hai người đã xông tới cái kệ, Râu Đen vươn tay lên, nhưng cái kệ ở ngoài tầm tay.

Xin phép ông, tự tôi sẽ bắt nó cho ông – người chủ quán lễ phép nói. Nó để cho tôi bắt, nhưng nó bay khi người khác định bắt nó. Trong khi chờ đợi, xin hai vị ngồi vào bàn và tôi mạn phép mời một cốc rượu.

Râu Đen lầm bầm vài tiếng, nhưng bà mẹ ghẻ ngồi ngay vào bàn. Ông chủ quán leo lên cái ghế đẩu ba chân và vuốt ve con chim câu. Nó rút vào một góc, không cử động, nhưng người ta thấy lông nó run rẩy vì nó sợ quá.

– Đừng sợ, tao không giao mày cho chúng đâu. Rồi ông lấy hai chiếc bình sắt và leo xuống.

– Thế còn con bồ câu ? Râu Đen gắt gỏng.

– Tôi đã định vuốt ve nó, và nó không bay đi, chốc nữa nó sẽ xuống ông chủ quán trả lời. Trong khi chờ đợi, xin cho tôi vinh hạnh mời hai vị nếm chút rượu.

Râu Đen nóng nảy ngồi không yên chỗ, nhưng ông chủ quán đã đặt trước mặt mỗi người một bình sắt. Bà mẹ ghẻ vồ lấy một cách háo hức, Râu Đen thì nóng lòng sốt ruột, và cả hai uống ừng ực

Ông chủ quán quan sát họ với vẻ chế nhạo. Rượu vào khỏi cổ, tay họ dài ra, biến thành hai chiếc cánh to, một cái mỏ cứng mọc ra trên mặt, thân thể họ có hình dạng một con chim lớn đầy lông đen óng ánh. Họ nhìn nhau kinh hoàng, tuyệt vọng kêu lên những tiếng “quạ, quạ” khàn khàn, rồi vỗ cánh bay qua cửa sổ mở rộng. Chỉ trong phút chốc người ta chỉ còn thấy hai chấm đen thật xa ở chân trời.

Con xuống được rồi – chủ quán nói. Họ không còn tới đe dọa chúng ta nữa đâu. Và đúng như ông nói. Không bao giờ người ta nghe nói tới bà mẹ ghẻ cũng như Râu Đen.